Tìm hiểu về công nghệ dập vuốt
07 Tháng Tư 2015
 
Công nghệ dập vuốt
 
Trong quá trình dập vuốt không biến mỏng , phần mép vành của phôi có thể không kéo hết vào trong cối đồng thời sẽ xuất hiện các ứng suất kéo và ứng suất nén . Thành phần ứng suất nén sẽ tác động theo hướng tiếp tuyến (hướng vòng) vì vậy với một tỷ số giữa đường kính chi tiết dập vuốt và đường kính phôi nhất định có thể gây ra hiện tượng nhăn ở vành. Điều đó sẽ dẫn đến việc kéo các sóng nhăn này vào trong khe hở giữa chày và cối với ứng suất kéo rất lớn gây phế phẩm hàng loạt do đứt đáy hay bị rách. Để ngăn ngừa nếp nhăn, trong các khuôn dập vuốt người ta thường sử dụng tấm chặn vật liệu, tấm chặn này có tác dụng ép phần vành của phôi vào bề mặt cối, chống lại sự tạo thành nếp nhăn của vành phôi. Do vậy trong quá trình dập vuốt không có biến mỏng người ta còn chia làm 2 dạng dập : dập vuốt không biến mỏng thành có chặn phôi và không chặn phôi.
 
Khi dập vuốt từ phôi phẳng sau một nguyên công ta có thể nhận được chi tiết hình trụ với chiều sâu không lớn, thường chiều cao tương đối h/d < 0,7 – 0,8. khi dập vuốt các chi tiết với chiều sâu lớn hơn, ứng suất kéo ở phần thành chi tiết (tại tiết diện ngang nguy hiểm) thường tăng lên rất lớn và có thể gây đứt đáy . vì vậy khi dập vuốt các chi tiết có chiều cao tương đối h/d lớn, người ta phải tiến hành dập qua nhiều nguyên công. Khi đó, ứng suất kéo hướng kính, phát sinh ở phần thành chi tiết sẽ giảm đi tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dập vuốt.
 
Trong quá trình dập vuốt phôi ở trạng thái nguội, kim loại thường bị hóa bền, làm giảm tính dẻo của kim loại. sự hóa bền quá mức của kim loại có thể dẫn đến mất tín dẻo và cuối cùng gây phá hủy. vì vậy quá trình chế tạo các chi tiết có chiều cao tương đối lớn (h/d >1) giữa các nguyên công dập vuốt người ta thường tiến hành ủ kết tinh lại các bán thành phẩm nhằm khử bỏ sự hóa bền và phục hồi tính dẻo của kim loại.
 
Các nguyên công tiếp theo khi dập vuốt được thực hiện trên các khuôn có chặn phôi hoặc không có chặn tùy thuộc vào chiều dày tương đối cuả phôi và mức độ biến dạng.
 
Các nguyên công tiếp theo khi dập vuốt cũng có thể thực hiện theo phương pháp dập vuốt thuận hoặc ngược. khi chày truyền áp lực vào phôi rỗng ở mặt trong của đáy phôi thì được gọi là phương pháp dập vuốt thuận, còn khi chày truyền áp lực vào mặt ngoài của đáy phôi thì gọi là dập vuốt ngược vì khi đó phôi được kéo vào trong cối theo hướng ngược lại so với hướng dập vuốt lần thứ nhất .
 
Dập vuốt ngược thường được sử dụng để dập vuốt các chi tiết có dạng phức tạp như các chi tiết hai đáy hoặc có 2 lớp vỏ. ngoài ra dập vuốt ngược còn được sử dụng để đồng thời thực hiện 2 nguyên công dập vuốt trong cùng một bộ khuôn nhằm tăng mức độ biến dạng .
 
Trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối, dập vuốt thường được thực hiện trên các máy ép trục khuỷu tác dụng đơn hoặc máy ép song động. thông thường các chi tiết có kích thước lớn và trung bình (vỏ ô tô, chậu, xoong nồi …) thường được dập trên các máy ép thủy lực song động hoặc máy ép song động cơ khí.
 
Lưu ý khi dập vuốt sâu
 
Trong quá trình dập vuốt sâu, chày đẩy tấm kim loại vào khoang trống của cối, kết quả là một sản phẩm rỗng. Một chi tiết được gọi là vuốt sâu nếu độ sâu của nó bằng ít nhất một nửa đường kính của nó. Nếu không, nó chỉ đơn giản được gọi chung là dập.
 
Dập vuốt sâu là một quá trình sử dụng rộng rãi trong sản xuất hàng loạt các mặt hàng gia dụng, chẳng hạn như lon súp, vỏ bọc pin, bình chữa cháy, và các bồn rửa chén. Một quá trình dập vuốt sâu có thể có một hoặc nhiều công đoạn vuốt, tùy thuộc vào sự phức tạp của chi tiết.
 
1.3.1 Hiện tượng nhăn trong dập vuốt sâu
 
Một trong những khuyết tật cơ bản xảy ra trong các quá trình vuốt sâu là hiện tượng nhăn của vật liệu kim loại tấm, thường xuất hiện trên phần vành hoặc bề mặt của chi tiết này. Bề mặt của phôi chịu ứng suất vuốt phân bố ở góc lượn và ứng suất nén tiếp tuyến trong quá trình dập, mà đôi khi kết quả gây ra nếp nhăn. Nhăn có thể ngăn ngừa được nếu khuôn của quá trình vuốt sâu được thiết kế đúng.
 
Nguyên nhân của hiện tượng nhăn trong dập vuốt sâu bao gồm:
o Hình dạng phôi và độ dày
 
o Hình dạng của chi tiết cần dập vuốt
 
o Tốc độ của chày
 
o Áp lực chặn phôi
 
o Độ sâu của chi tiết và bán kính góc cuả chi tiết
 
o Lực ma sát giữa phôi, mặt bích chặn phôi, bề mặt cối và chày
 
o Khe hở giữa phôi, mặt bích chặn phôi, bề mặt cối và chày
 
Những yếu tố khác, chẳng hạn như nhiệt độ của cối và loại hợp kim của phôi, cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình dập vuốt. Một biến đổi ở bất kỳ yếu tố nào đều ảnh hưởng đến khả năng nhăn hoặc nứt ở sản phẩm vuốt sâu.
 
Bích chặn phôi giữ các cạnh của tấm kim loại trong khi đó các lực của chày đẩy kim loại tấm vào khoang của cối làm loại tấm biến dạng thành hình dạng thích hợp, thay vì chỉ đơn giản là kéo phôi vào trong khoang của cối.
 
Bích chặn phôi không giữ các cạnh của phôi tại chỗ. Trong một vài trường hợp, rách có thể xảy ra trên các thành của sản phẩm. Bích chặn phôi cho phép phôi trượt một phần nào bằng cách cung cấp lực ma sát giữa các bích chặn và tấm phôi đó. Lực chặn phôi có thể áp dụng lưu chất, bằng cách sử dụng đệm không khí hay nitơ, hoặc một đệm lưu chất nào đó.
 
Độ sâu cối càng lớn, càng nhiều phôi bị kéo xuống khoang của cối và nhiều nguy cơ bị nhăn trên các thành và mặt bích của sản phẩm. Độ sâu tối đa của khoang chày là một sự cân bằng giữa sự bắt đầu nhăn và khởi phát của các đứt gãy, điều này ta không mong muốn.
 
Các bán kính lượn của chày và cạnh khoang của cối kiểm soát dòng chảy của phôi vào khoang của cối. Sự nhăn trên thành sản phẩm có thể xảy ra nếu bán kính lượn của chày và góc cạnh khoang cối là quá lớn. Nếu bán kính quá nhỏ, phôi dễ bị rách vì áp lực cao.
 
Tham khảo thêm :
Tin đã đăng
Đối tác
    »
    «